Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Hạnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Hạnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015

MƯA THU - Tri âm cùng một nhịp cầu

Ngày Thứ Tư 28-10-2015, Toronto có gió thổi mạnh và mưa tầm tã suốt ngày. Tôi lái xe đi công chuyện, và vì một lý do ngoài ý muốn, tôi ngồi trong xe tại một bãi đậu mênh mông chứa hàng ngàn chiếc. Tôi ngồi đó một mình nghe tiếng mưa rơi rào rào trên mui xe và nhìn màn nước đổ xuôi trên kính trước. Trong khoảng thời gian hai giờ đồng hồ, tôi lục soạn và ôn lại ký ức, nghĩ xem mình đã từng trải qua những kỷ niệm gì đáng nhớ nhất trong đời với mưa. Nhiều lắm, nhưng cái đáng nhớ ở đây, liên quan đến diễn đàn này, là những bài thơ về mưa xướng tùy cùng bằng hữu hai năm trước. Về đến nhà, khi gió mưa vẫn còn bao phủ bầu trời xám đục, tôi mở lại hộp lưu trữ hồ sơ đọc trong niềm rung cảm bồi hồi…
1. Trong Mưa

Mỗi khi mưa đổ xuống
Em nhắm mắt lắng nghe
Tiếng mưa rơi cô đơn
Bầu trời đang bật khóc.
Cảm nhận dòng lệ tuôn
Giọt buồn không rơi mãi
Như mỗi ngày trôi chảy
Tất cả đến rồi đi.
Đêm muộn em dần trôi 
Nghe thấy lời anh gọi
Tên em vang trong mưa
Lá trên cây thì thầm
Huyền bí biển thẳm xanh.
Dù lúc này chấm dứt
Cảm giác vẫn còn đây
Rồi mọi điều trở lại
Trong tiếng mưa rơi đều
Từ bầu trời tuôn khóc
Nghe tên em trong mưa.
(Phan Hạnh dịch từ lời bản nhạc It's In The Rain của ENYA)
It's in the Rain
Everytime the rain comes down
Close my eyes and listen
I can hear the lonesome sound
Of the sky as it cries
Feel the touch of tears that fall
They won't fall forever
In the way the day will flow
All things come, all things go
Late at night I drift away
I can hear you calling
And my name is in the rain
Leaves on trees whispering
Deep blue seas, mysteries
Even when this moment ends
Can't let go this feeling
Everything will come on again
In the sound falling down
Of the sky as it cries
Hear my name in the rain.
2. Em Sẽ Khóc Trong Mưa
 
Em sẽ khóc khi trời mưa tầm tã
Để cho anh khỏi thấy lệ em tuôn
Dù tim em rạn nứt những đau buồn
Em vẫn giấu không để anh nhìn thấy.
Vì em có tự hào riêng em đấy
Và em cần che đậy nỗi niềm riêng
Em sẽ chờ cho trời phủ mây đen
Anh khó biết trời mưa hay em khóc.
Quên anh đi là một điều khó nhọc
Vì thật lòng em vẫn mãi yêu anh
Nên dù cho tim héo úa nát tan
Em sẽ khóc khi trời mưa tầm tã.
Ngày nào đó cơn khóc đà hê hả
Em sẽ cười thả bộ lúc nắng trong
Dẫu biết rằng như thế có vẻ ngông
Nhưng em sẽ không than phiền gì nữa
Em sẽ khóc trong mưa…
Em sẽ khóc trong mưa…
Phan Hạnh dịch từ lời bản nhạc Crying In The Rain của Carole King và Howard Greenfield 

I'll never let you see
The way my broken heart is hurting' me
I've got my pride and I know how to hide
All my sorrow and pain
I'll do my crying' in the rain.
If I wait for cloudy skies
You won't know the rain from the tears in my eyes
You'll never know that I still love you so
Though the heartaches remain
I'll do my crying in the rain.
Raindrops falling from heaven
Could never wash away my misery
But since we're not together
I'll look for stormy weather
To hide these tears I hope you'll never see.
Someday when my crying's done
I'm gonna wear a smile and walk in the sun
I may be a fool but 'til then darling you'll
Never see me complain
I'll do my crying in the rain.
Someday when my crying's done
I'm gonna wear a smile and walk in the sun
I may be a fool but 'til then darling you'll
Never see me complain
I'll do my crying in the rain.
I'll do my crying in the rain...

3. Xin Em Đừng Khóc
 
Em đừng khóc như trời mưa, tầm tã
Đừng để anh nhìn giọt lệ sầu tuôn
Đôi mắt nâu đang dấu kín u buồn
Em có dấu, thể nào anh cũng thấy.

Anh đã bảo là em đừng khóc đấy
Em cần gì che đậy nỗi sầu riêng
Tình đôi ta như trời phủ mây đen
Tình xa cách, nhưng xin em đừng khóc.

Bước chân anh lê trên đường mệt nhọc
Anh biết, thật lòng ta vẫn yêu nhau
Tâm hồn anh sầu úa, nát tan tành
Anh đi dưới làn mưa rơi tơi tả.

Mặc người đời nhìn anh cười hể hả
Mình mất nhau, sớm trời trong mùa hạ
Đến bây giờ, em có nhớ đến anh
Có nhớ kỷ niệm xưa, một thưở dại khờ...

Em đã khóc... như mưa rơi, tầm tã.
Phạm Thị Minh Hưng
4. Em Không Khóc Đâu Anh
 
Em không khóc đâu anh
Dù muộn phiền lên mắt
Ngõ hồn em chôn chặt
Khối tình ước mơ xanh.
Em không khóc đâu anh
Vô thường trong cõi mộng
Khi lạc vùng biển ái
Lúc khắc khoải tàn canh.
Em không khóc đâu anh
Dương gian là bể khổ
Khi bước vào hoan lộ
Giông tố đã xây thành.
Em sẽ thôi không khóc
Về điểm phấn tô son
Ước mong dòng dư lệ
Theo nuớc chảy đá mòn.
Em không khóc đâu anh
Để ru người tròn giấc
Ngày mai đừng ngoảnh lại
Nhìn em mắt lệ ngân.
Em giã từ hương phấn
Bán gánh sầu vai mang
Giấu hờn trong tim lạnh
Trả anh mảnh hồn hoang.
Em xin thôi không khóc
Giấu mặt vào vai anh
Ngủ quên trên bến mộng
Chỉ một lần thôi anh.
Ngọc Quyên.
5. Khóc Cùng Mưa
 
Long lanh từng hạt mưa sa
Gió vi vu hát bài ca nhớ nguời
Sầu rung nhịp thở chơi vơi
Tình ơi đếm giọt mưa rơi ngắn dài.
Nhớ nhung hồn gởi mây bay
Tay gầy ôm giấu hình hài trăm năm
Người từ phương ấy xa xăm
Có hay dòng nhớ lạc vần thơ yêu.
Em về bóng ngã cô liêu
Ngõ nhà lạc bước đường chiều bâng khuâng
Giọt mưa tí tách lặng thầm
Mưa hay nỗi nhớ tình trần mõi mê.
Lệ mưa môi thắm lời thề
Dẫu đời xa cách tái tê mưa sầu
Nghìn trùng tim vẫn bên nhau
Mưa trên ngày tháng xanh xao ước nguyền.
Ngọc Quyên. (11/8/2013, một buổi chiều Chủ Nhật mưa rỉ rả buồn tênh)
6. Nước Mắt Lưng Tròng
 
Mưa sao cứ mãi ròng ròng,
Để em nước mắt lưng tròng ướt khăn.
Người đi quên chuyện trăm năm,
Dù không mưa cũng ướt đầm má, môi.
Huống hồ Đông lạnh, mưa hoài,
giăng giăng che khuất bóng người nhớ thương.
Lòng buồn như tuyết, như sương,
Lệ rơi hết kiếp, nỗi buồn chưa nguôi,
Ngoài song mưa vẫn đang rơi,
Dưới mưa, ủ rũ, tả tơi đóa Quỳnh.
Hoài Hương.
7. Mắt Lệ Ngày Xưa
11/8/2013. Thôi nín đi em…Lệ ướt mi rồi... Còn thương khóc chi… Ngọc Quyên ơi, MH thương ngấn lệ long lanh của Hoài Hương, nhìn mưa Sài Gòn chiều nay không sao ngồi im được, nên thấu hiểu nỗi lòng NQ phải "khóc trong mưa". Do đó, bài thơ này đã viết xong, xin chia sẻ cùng quý thân hữu. Ghi chú: Quý Vị ơi! con trai nhiều khi cũng khóc, vì MH đã thấy rồi, không phải chỉ mình con gái biết khóc đâu! Phải thế không ạ?
 
Thương sao đôi dòng lệ long lanh
Tơi tả rơi rơi khóc tình xanh
Giọt lệ ngọc ngà, thời hoa gấm
Làm đớn đau chi tình mong manh.

Tháng Hạ trời mưa đường vắng tanh
Hoàng hôn buông phủ Phượng buồn tênh
Bâng khuâng thầm lặng , tình xa vắng
Chia tay lần ấy, hồn chông chênh.

Phượng rũ buồn, mưa rơi bên song
Cuộc tình như lá úa chiều đông
Ngày mai, cả những ngày sau nữa
Tìm đâu bóng dáng nắng Xuân hồng.

Sài Gòn mưa, mưa rơi mênh mông
Nhớ người xưa, mắt lệ tuôn dòng
Biệt tăm đôi mắt, tình thơ ấy,
Mắt lệ buồn, một thuở sầu đông...
Phạm Thị Minh-Hưng

8. Lệ Này Cho Anh
Cùng ngày Chủ Nhật 11/8/2013, Thu Tâm viết: “Chị Hoài Hương với Minh Hưng ơi. Cám ơn hai chị đã cho TT cảm hứng. Mấy hôm nay đọc những vần thơ về mưa, lệ của các chị khiến TT cũng phải rưng rưng theo đây nè.”
 
Em vẫn khóc cho cuộc tình không trọn,
Bằng những dòng lệ chảy ướt buồng tim.
Đêm đợi nghe tiếng lá rớt bên thềm,
Hồn mơ mộng bước chân anh về đến.
Em vẫn khóc cho dù lời câm nín,
Trong  âm thầm réo gọi giữa thinh không
Chiều nhạt nhòa giăng mây xám, gió Đông
Mờ mịt mắt, buốt gía lòng cô phụ.
Em hay khóc trong những chiều mưa đổ,
Thấy bơ vơ một góc vắng riêng mình...
Hạt lệ trời hòa nước mắt long lanh,
Nghe nghèn nghẹn theo hàng bong bóng vỡ.
Em hay khóc dẫu Xuân về rạng rỡ,
Dù Hè sang nắng ấm khắp không gian
Thu có xinh bởi sắc lá huy hoàng
Cũng ngơ ngẩn cuối mùa xơ xác rụng.
Em lại khóc trong chiều nay gió lộng
Bao năm rồi sao vẫn chẳng phôi pha
Người vẫn đi, vẫn biền biệt nơi xa
Để nỗi nhớ một mình em quay quắt!
Trời Saigòn của những ngày xa lắc
Giờ Cali nào có khác gì đâu
Vẫn một người chờ đợi suốt canh thâu
Bởi hai ngã chia ly bao giờ gặp!
Thu Tâm
Mùa thu còn dài, mưa thu thật và nước mắt ảo sẽ còn rơi trong những ngày trời buồn, sẽ tiếp tục gây cảm hứng cho thi nhân. Tôi hy vọng nhịp cầu tri âm còn nói tiếp với sự góp tiếng tham gia của các bạn khác trong diễn đàn chúng ta.
PH-HCA

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2015

HÃY NGẮM YÊU HOA TÍM


 Ảnh Kim Oanh_Sydney

Hãy ngắm yêu hoa tím

Ngày hôm nay em có ngắm hoa tím?
Nắng len cành có rọi má thiên kim
Cho mắt long lanh hạt ngọc im lìm
Môi kiêu hãnh hôn hoa mà vẫn mím.

Tôi thích thư em thưa thốt dịu dàng
Tôi nghĩ đến gương mặt em xinh quá
Tôi liên tưởng nụ cười em óng ả
Trời mùa thu sao bỗng rất dễ thương.
 
Bàn phím chữ dường như dính sợi tóc
Tôi sá gì dấu tích của thời gian
Vì lòng tôi đang còn mãi hân hoan
Khi chợt thấy tên em trong Inbox.

Tuy rằng chúng ta cách nhau thật xa
Nhưng không gian đâu là cách trở
Tôi "Google" cũng biết nơi em ở
Tay bấm "Shift" gõ tên em viết hoa.

Hoa tím nở nơi em thì hãy ngắm
 Hãy yêu những gì mình đang có trong tay
Lá vàng rơi tôi thấy đẹp lung lay
Và tôi nghĩ hoa tím em càng đẹp.
"Send" :)
 Phan Hạnh.
*
image


Thứ Tư, 23 tháng 7, 2014

COMIC_HB CU CON XỨ GÒ VẤP - Những Vườn Hoa Nổi Tiếng Canada - K1 Miền Tây


*
Nhắn tin Hà Bá..
Gởi gấp tấm hình "Thằng cu con" xứ Gò Vấp măc quần đùi hở rốn ra làm quen với  "con bé" PTMH ..
NTTD

Có đây, có đây chị Thanh Gò Vấp ơi!

 photo 5yearold.jpg

Sẵn kèm theo comic này luôn.
(Ranh con HB có mấy chị Triều Tiên hậu vệ, he he!)

 photo anhhungromgovap3_zps60e0e14d.jpg
Displaying minh hung at 4_jpg.jpg
Nhỏ MH đang nhìn ...và cười mím chi khi nghe...cậu ta OK OK YES...
...[MH smile...]
*
Những Vườn Hoa Nổi Tiếng Canada - Kỳ 1 Miền Tây
Phan Hạnh

Càng sống lâu nơi xứ sở Canada này chúng ta càng thấy yêu mến quê hương thứ hai của mình. Chúng ta đã âu yếm gọi ngôi nhà lớn Canada bằng tên Việt là Gia Nã Ðại, Miền Ðất Hạnh Phúc, Xứ Lạnh Tình Nồng. Chúng ta cũng gọi Toronto là Tổ Rồng To, Montréal là Mộng Lệ An, và Vancouver là Vạn Cửu Thành, nghe cũng hay hay.

Ba thành phố vừa kể cũng là ba đại đô thị rộng lớn nhứt về diện tích lẫn đông nhứt về dân số tính theo thống kê năm 2006 và vẫn còn tăng đều mỗi năm. Toronto, Ontario (gồm cả Mississauga) với 5,555,912 cư dân; Montréal, Québec (gồm cả Laval) với 3,635,571 cư dân; và Vancouver, British Columbia (gồm cả Surrey, Burnaby) với 2,116,581 cư dân. Về diện tích, Toronto với 7,125 km2 (2,751 sq mi), (lớn gấp ba lần rưỡi Saigon ngày nay) , Montréal với 4,259 km2 (1,644 sq mi) (hơn gấp đôi Saigon), và Vancouver với 2,878.52 km2  (1,111.4 sq mi) (rộng gấp 1.4 lần Saigon). [Ghi chú: Diện tích của Saigon ngày nay (thành Hồ) là 2,095 km2 (809.23 sq mi)]. Theo tỉ lệ thuận, người Việt chúng ta cũng cư ngụ theo thứ tự đông nhứt trong ba thành phố đó: khoảng hơn 55,000 ở Toronto, 30,000 ở Montréal, và 25,000 ở Vancouver.

Có nhiều yếu tố làm cho các đại đô thị này thu hút di dân, chẳng hạn như yếu tố đa văn hóa đa chủng tộc, yếu tố kinh tế và an sinh xã hội. Ngoài ra còn có yếu tố khí hậu tương đối dễ chịu, cảnh trí tươi đẹp hiền hòa do con người biết gìn giữ, xây dựng bồi đắp dựa trên cảnh trí sẵn có của thiên nhiên. Trong phạm vi bài viết này, chúng ta hãy tìm hiểu thêm một phần về đất nước Canada bằng cách thăm viếng qua những vườn nổi tiếng trong hoặc gần ba thành phố có đông cư dân gốc Việt nhứt đó.

Theo tài liệu lượm được trên mạng (nếu không thì kẻ hèn lười biếng này có biết gì đâu mà viết) thì Canada có 7 vườn thảo mộc được liệt kê vô danh sách 142 vườn thảo mộc đẹp nhứt thế giới. [Nước đứng đầu bảng xếp hạng là Vương quốc Anh (28), tiếp theo là Hoa Kỳ (14), Pháp (13), Trung Hoa (12), Nhật Bản (11), Ý-đại-lợi (9), Gia-nã-đại (7), Tây-ban-nha (6) Tân-tây-lan (4), Hòa-lan (3), Bồ-đào-nha (3) Ấn-Ðộ (3), Nam Dương (3), Mã-lai-Á (2), v.v.]

Bảy vườn thảo mộc đẹp của Canada là: Butchart Gardens, Minter Gardens, Sun Yat-Sen Classical Chinese Garden, Nitobe Memorial Garden thuộc tỉnh bang B.C., Queen Victoria Gardens tỉnh bang Manitoba, Toronto Botanical Garden and Edwards Gardens trong tỉnh bang Ontario, và Montreal Botanic Gardens tỉnh bang Québec. Ðây chỉ là thứ tự bốn tỉnh bang từ Tây sang Ðông chứ không phải là thứ tự từ nhứt tới chót, xin quí độc giả an tâm: ngôi vườn ở địa phương quí độc giả là đẹp nhứt đó, cũng giống như ai cũng thầm thì bên tai vợ yêu của mình rằng “Em là người đàn bà đẹp nhất của lòng anh” vậy.

Về cái bảng xếp hạng của trang mạng http://www.worldreviewer.com/nầy, nếu bạn đọc nào cảm thấy vườn thảo mộc ưa chuộng nhứt của mình bị lọt sổ, bị bỏ sót, bị ăn gian thì tôi rất lấy làm thông cảm, vì chính tôi cũng ấm ức cho rằng chưa chắc nó có sự công bằng hoàn toàn. Với lại xấu đẹp còn tùy người đối diện, không đẹp lắm của họ là đẹp hết xẩy của mình hoặc ngược lại thì sao. Nhưng thôi, vào những ngày trời đẹp, ta cứ tạm xách máy ảnh đi thăm viếng những vườn thảo mộc gần nhà trước đã; sau đó nếu có điều kiện thì đi viếng các nơi xa nhà khác. Cho dù có đi rồi mấy năm trước thì đi lại vì cảnh trí thay đổi mỗi năm mỗi khác, máy ảnh mới mua năm 2014 vẫn chiến hơn máy ảnh mua từ nhiều năm trước. Và nhớ để dành đủ thì giờ ngắm cảnh và thưởng thức vẻ đẹp của hoa cỏ cây cối của từng khu vườn mình thăm viếng chứ đừng mãi mê lo chụp hình “đối tượng” đấy nha.

THE BUTCHART GARDENS, B.C.


Thành lập năm 1904, rộng 55 mẫu Anh (22 mẫu Tây). Ðịa chỉ: 800 Benvenuto Avenue, Brentwood Bay, Victoria B.C. V8X 3X4.

Butchart là một tập hợp gồm nhiều khu vườn ở Brenwood Bay gần Victoria, B.C. trên đảo Vancouver được nhiều chuyên gia thảo mộc giàu kinh nghiệm đánh giá là đẹp nhất hoặc nhì Canada so với Vườn Thảo Mộc Montréal, đồng thời có tầm vóc quốc tế là một trong những vườn thảo mộc nổi tiếng của thế giới. Hằng năm vườn này tiếp nhận hơn một triệu lượt du khách viếng thăm. Vườn rộng 22 mẫu Tây gồm có Vườn Hoa Hồng, Vườn Nhật Bản, Ao Sao (hay là Tinh Trì theo từ ngữ Hán Việt, nếu bạn thuộc thế hệ Nho thâm và Hán rộng), Vườn Ý,  Hiên Viên và Vườn Ðịa Trung Hải. Hai bên đường Benvenuto Avenue từ West Saanich Road dẫn vào cổng vườn có trồng cây hoa anh đào mang qua từ vườn ươm cây ở Yokohama, Nhật Bản.

Vườn Hồng có lối đi lát đá phiến, có các cổng vòng cung giây hoa hồng leo, có suối con róc rách, có giếng ước viềng rào bằng sắt rèn kiểu Ý. Hoa hồng mỗi loại có bảng ghi tên khoa học, năm nạp danh chính thức và nước xuất xứ. Vườn hồng đạt mức độ sung mãn nhứt trong hai tháng Bảy và Tám. Lối đi uốn cong dưới giàn giây hoa leo dẫn tới thác nước cá tầm. Những tượng cá tầm (sturgeon) được đúc từ vùng Florence bên Ý bởi điêu khắc gia nổi tiếng Sirio Tofanari.

Qua khỏi thác cá tầm là cổng gỗ (Torii) kiểu cổ-sơn-môn của Thiền đạo Nhật với những bậc thềm và dòng suối nhỏ dẫn vào Vườn Nhật. Hoa anh túc giống từ vùng Hy-mã-lạp-sơn màu thiên thanh thường nở vào cuối Xuân và được tìm thấy ở cuối bậc thang. Vị nữ chủ nhân Jennie Butchart là một trong những người đầu tiên ở Bắc Mỹ mang loài hoa hiếm và mỏng manh này về Canada trồng. Khu vườn Nhật ở đây được thiết lập kể từ năm 1906 với sự trợ giúp chuyên môn của nhà kiến trúc cây cảnh người Nhật Isaburo Kishida. Nhìn xuyên qua tàng cây, du khách có thể thấy bến đậu của các thủy phi cơ và ghe thuyền và hòn đảo nhỏ Saanich bên bờ đại dương.

Rời vườn Nhật, ta leo lên một dốc nhỏ để tới Ao Sao (vì có hình ngôi sao), khởi đầu nguyên là nơi nữ chủ nhân Jennie Butchart trưng bày bộ sưu tập nhiều loại vịt giả làm bằng gỗ hay bằng sứ. Giữa các góc sao là những luống hoa nhiều màu sắc, chính giữa có thác nước.

Vườn Ý có hai cổng vào hình vòng cung và bức tượng đồng Thủy Ngân Thần đứng ở giữa. Hồ nước hình chữ thập được bơm nước vào qua thác nước có hình một cô gái cầm một con cá. Nơi đây ngày xưa nguyên là sân  quần vợt tráng xi măng của ông chủ

Richard Butchart. Một lối dài có mái che nguyên xưa kia là chỗ chơi banh cù (bowling), nay trở thành mái che cho bảng Chào Mừng chữ Ý “Benvenuto”, bên đưới bảng là quầy bán kem vào mùa hè.
DOT BC VI Vancouver Island Victoria Butchart Gardens 02


Hiên Viên (Piazza) là khu quảng trường cho khách thưởng ngoạn ngồi nghỉ chân giải lao có đặt tượng Heo Rừng của nhà điêu khắc Pietro Tacca, đúc năm 1612. Ngay bên phải là Trung Tâm Xác Ðịnh Tên Cây, cạnh đó là nhà hàng ăn. Phía bên trái xa xa hơn có một nhà hàng ăn khác và Nhà Kiếng trưng bày thảo mộc. Cạnh đó còn có quán cà phê, gian hàng bán kỷ vật và hạt giống. Toàn khu này dĩ nhiên cũng được chưng diện bằng những bồn hoa đầy màu sắc ra tận bãi đậu xe.

Vườn Ðịa Trung Hải trưng bày các loại thảo mộc lạ mang về từ nhiều vùng sa mạc khác nhau trên thế giới, chịu đựng được khí hậu khắc nghiệt khô cằn nóng bức và hiếm nước, nhiều loài hoa xương rồng có màu sắc chói lọi rực rỡ gợi được sự ngạc nhiên trầm trồ của du khách.

Vườn Thảo Mộc Butchart có trên hơn một thế kỷ lịch sử. Năm 1904, đôi vợ chồng Robert Pim Butchart (1856-1943), Jennie Butchart (1866-1950), cư dân Owen Sound, Ontario và là chủ nhân một hãng sản xuất xi-măng đóng bao (Portland cement) di chuyển đến đây lập nghiệp vì vùng này có hầm đá vôi, thành phần chính cho việc chế tạo xi-măng. Hai năm sau, Jennie lập khu vườn Nhật Bản trong khu đất nhà với sự trợ giúp của nhà thiết kế cây cảnh Isaburo Kishida. Năm 1909, khi hầm đá vôi đã khai thác hết rồi, Jennie tiến hành công việc biến nó thành khu vườn lún (Sunken Garden) và hoàn tất vào năm 1921. Họ đặt tên gia trang của họ là Benvenuto, tiếng Ý có nghĩa là Chào Mừng và bắt đầu đón nhận khách viếng thăm. Năm 1926, họ biến sân quần vợt thành Vườn Ý, và năm 1929, biến khu vườn trồng rau của họ thành Vườn Hoa Hồng do kiểu mẫu của nhà thiết kế hoa viên Butler Sturtevant đến từ Seattle, bang Washington, Hoa Kỳ.

Năm 1939, ông bà Butchart tặng trọn khu vườn lại cho cháu ngoại tên là Ian Ross (1918–1997) nhân ngày sinh nhật thứ 21 của cháu. Ross tham gia vào việc duy trì và phát triển khu vườn cho đến khi chết 58 năm sau.


Năm 1953, hằng nhiều cây số đường giây điện chôn ngầm dưới mặt đất để thắp sáng toàn khu vườn lúc ban đêm, đánh dấu 50 năm ngày thành lập. Năm 1994, Butchart Gardens được Phủ Toàn Quyền Canada công nhận và ban tặng huy hiệu danh dự chính thức. Năm 2004, hai trụ đài điêu khắc cao ba mươi bộ Anh theo mô thức truyền thống của người bản xứ Da Ðỏ (totem poles) được dựng lên nhân lễ kỷ niệm một trăm năm ngày thành lập, và Vườn Butchart được nhìn nhận là một địa điểm di tích lịch sử quốc gia.

Quyền sở hữu của Vườn Butchart vẫn còn thuộc về dòng họ gia tộc Butchart; sở hữu chủ hiện tại vừa là giám đốc điều hành kể từ năm 2001 cho đến nay là Robin-Lee Clarke, cháu chắt của vợ chồng nhà sáng lập Robert và Jennie Butchart.

Trong khi bà Jennie sưu tầm hoa kiểng cây cối thì ông Robert thích chơi chim hơn. Ông sưu tầm các loài chim trên khắp thế giới, nuôi vẹt (kéc) trong nhà, vịt ngoài ao và công trước sân. Ông làm một số chuồng chim tỉ mỉ rất đẹp treo trong vườn và ông còn huấn luyện bồ câu nữa.

Trong khắp khu vườn có nhiều tượng đồng, nhưng nổi tiếng hơn hết là tượng heo rừng mà ông đã mua trong một chuyến đi du lịch vùng Ðịa Trung Hải năm 1973. Tượng đúc ở Florence, là bản sao của tượng chánh gốc làm bằng đá cẩm thạch của danh sư điêu khắc Pietro Tacca. Tên tượng heo rừng nầy được gọi là Tacca để tưởng niệm và vinh danh người sáng tạo ra nó. Mõm bức tượng heo rừng này bóng nhoáng là vì nhiều du khách sờ vuốt để lấy hên.
 (Ảnh của Lương Quang Tuấn)

Gần trước nhà ở của gia chủ có tượng lừa và ngựa tạc bởi Sirio Tofanari. Một tượng thác nước hình ba con cá tầm cũng bởi Tofanari được dựng trong Vườn Nhật. Năm 1993, nữ gia chủ lúc bấy giờ là Ann-Lee Ross cho dựng bức tượng “Circle of Doves” trước giàn hoa thu hải đường (begonia). Hai năm trước đó, bà đã mua bức tượng nầy tặng chồng nhân ngày kỷ niệm 50 năm ông bà thành hôn.

Trong những ngày khu vườn mới lập, vợ chồng gia chủ Robert và Jennie Butchart hằng tuần thường tổ chức hòa nhạc cho gia đình và khách mời thưởng thức, nhưng sau đó số người tham dự ngày càng đông, không mời cũng tới, có lúc lên đến 18,000 người (năm 1915), đặc biệt là ai cũng được mời uống trà, chính nữ chủ nhân cũng phải phụ một tay. Giai thoại kể có một vị khách tưởng nhầm bà chủ Jennie là một gia nhân giúp việc, nhanh nhẩu  móc túi cho bà tiền típ! Bà Jennie nổi tiếng là người hiếu khách và rộng lượng. Năm 1930, bà được phong tặng danh hiệu công dân hạng nhất của thành phố Victoria.

Gần đây hơn, trong hai tháng hè Tháng Bảy và Tháng Tám và trong dịp lễ Giáng Sinh và Năm Mới, chủ vườn cho tổ chức nhiều buổi trình diễn giúp vui hơn, từ nhạc Jazz tới nhạc cổ điển. Ngoài ra còn có ban nhạc cây nhà lá vườn mang tên “The Weeds” (họ cũng có đầu óc tiếu lâm nhỉ) do chính các nhân viên làm việc trong Vườn Butchart thành lập và trình diễn. Nên nhớ, số nhân viên làm vườn có lúc lên đến 240 người, lựa ra năm bảy người có máu văn nghệ kể cũng không khó lắm.

Năm 1977, Christopher (1944 - 2000), con trai gia chủ khởi xướng màn trình diễn đốt pháo bông mỗi tối Thứ Bảy trong những tháng hè. Vào mùa đông, đồ tế nhuyễn trưng bày Giáng Sinh và đèn trang trí thắp sáng cả khu vườn cùng với một sân trượt băng mang tên Waterwheel Square.

Ðể bảo đảm cho khu vườn lúc nào cũng có hoa liên tục trong suốt thời gian từ tháng Ba đến tháng Mười, chủ vườn hằng năm phải dùng hơn một triệu cây hoa thuộc khoảng bảy trăm chủng loại khác nhau.

MINTER GARDENS, B.C.


Minter Gardens nằm về phía Ðông cách trung tâm thành phố Vancouver 90 phút lái xe và sát cạnh quốc lộ 1 Xuyên Canada, vừa rẻ vô Exit # 135 là tới liền. Ðịa chỉ:  52892 Bunker Rd., Rosedale, BC, V0X 1X0. 

Từ nhiều thế kỷ trước, một vụ đất chuồi khổng lồ trên núi đổ xuống tràn lấp vùng đất phì nhiêu phía Ðông thung lũng Fraser. Ðá rơi đẩy về hướng Bắc, băng qua sông Fraser và chấm dứt dòng chảy hướng Tây tại chỗ Vườn Minter ngày nay. Ðịa thế độc đáo này khiến cho vùng đất trở nên không thích hợp cho việc canh tác hoa màu, nhưng những người di dân đầu tiên khám phá rằng nó là nơi lý tưởng cho việc chăn nuôi gia súc. Các loài cổ thụ và thảo mộc bản địa làm gia tăng nét đẹp quyến rũ của vùng. Hằng ngàn hoa dại thuộc các loài như phong lữ (geranium), vũ điểu (columbine), hồng (tuy gọi chung là hồng nhưng không phải chỉ có màu hồng thôi đâu) và huyết lệ tâm (bleeding hearts) chấm phá nét cuối cùng làm cho bức tranh trở nên toàn mỹ.

Chính nơi xinh đẹp này đã khiến cho đôi vợ chồng Brian và Faye Minter mê mẩn khoái mắt khi lần đầu tiên nhìn thấy nó vào ngày lễ Giáng Sinh năm 1977. Ðịa thế độc đáo lại nằm tựa lên bối cảnh là đỉnh núi Cheam cao bảy ngàn bộ Anh càng thêm diễm lệ. Họ quyết định thực hiện giấc mơ biến nơi đây thành một trong những vườn thảo mộc đẹp nhất thế gian. Ðến năm 1980, giấc mơ của họ đã trở thành hiện thực. Từ đó đến nay, Vườn Minter phát triển và biến đổi không ngừng nghỉ. Hàng trăm ngàn đóa hoa uất kim hương (tulip) nhập cảng từ Hòa Lan được trồng ở đây để chào đón du khách vào mỗi dịp đầu Xuân. Hàng ngàn khóm cây hoa đỗ quyên (rhododendron, azalea) cung cấp màu sắc táo bạo giữa những cây tuyết tùng (cedar) cao lớn và dốc bờ chèn đá thiên nhiên.


Mùa hè, các loại hoa đơn niên (annual) được trồng thật nhiều để trang điểm cho những bụi cây cắt tỉa thành hình thể và phủ đầy những luống hoa thi nhau khoe sắc bên cạnh Vườn Hoa Hồng truyền thống nằm chen lẫn với những suối con róc rách và những thác nước rộn rã. Ngoài ra còn có những khóm rừng thưa êm ả tĩnh lặng trong vườn có tất cả 11 khu chủ đề khác nhau: Fragrance, Rose, Formal, Arbor, Rhododendron, Meadow, Fern, Hillside, Alpine, Stream và Chinese Penjing (Bồn cảnh, tức hòn non bộ).

Minter Gardens rộng 32 mẫu Anh (nhỏ hơn so với Butchart Gardens), cũng có hai nhà hàng, quán bán đồ lưu niệm. Ðặc biệt, vườn có dịch vụ tiếp trợ tổ chức đám cưới, tiệc họp mặt cho gia đình và hội đoàn, cơ sở kinh doanh. Xuyên khắp vườn là những lối đi quanh co vòng vo qua địa thế đồi dốc gây nhiều thích thú bất ngờ và cũng mau mỏi chân cho nên vườn có đặt sẵn nhiều băng ghế.

Brian Minter là một người làm việc không mệt mỏi. Ngoài cương vị chủ nhân điều hành tổng quát doanh nghiệp gia đình với tất cả vợ, hai con gái, con rể đều phân chia phần việc ra làm, Brian còn tham gia chương trình phát thanh, đi diễn thuyết tại các lễ hội, triển lãm và là thành viên trong nhiều hiệp hội. Vì thế, ông ta được ban tặng huy chương cao quý Order of Canada vào năm 1990, Tiến sĩ Danh dự của Trường Ðại Học Fraser năm 2001 cùng nhiều giải thưởng về ngành chuyên môn trồng trọt và thảo mộc.

SUN YAT-SEN CLASSICAL CHINESE GARDEN, B.C.


Vườn Trung Hoa Cổ Ðiển Bác Sĩ Tôn Dật Tiên (tên chính thức dài quá, trong suốt phần còn lại của bài, xin được gọi tắt là Vườn Tôn Dật Tiên) là ngôi vườn sư biểu Trung Hoa đúng kích thước nguyên thủy được xây dựng bên ngoài nước Trung Hoa và tọa lạc trong Phố Tàu Vancouver, số 578 Carrall Street. Vườn Tôn Dật Tiên gồm một công viên không thu tiền vé vào cửa và một vườn có thu phí.

Những vườn cổ điển Trung Hoa luôn luôn tuân theo các nguyên tác triết học của phong thủy và Lão giáo ngõ hầu đạt được sự cân bằng và hài hòa của các đối cực, chẳng hạn như những tảng đá lởm chởm được đặt cạnh bên cây lá thanh tú mảnh mai.

Nước cũng là một yếu tố quan trọng của vườn phương Ðông nói chung và vườn Trung Hoa nói riêng. Ao nước mang lại cho ngôi vườn sự phản chiếu soi gương của cảnh trời và sự tĩnh lặng, kết hợp các yếu tố khác lại với nhau. Cá và rùa được thả nuôi  trong vườn có mục đích biểu tượng cho đời sống. Các vật mang hình tượng của dơi, rồng và phụng tượng trưng cho phúc lộc và thịnh vượng. Các tảng đá lớn được đặt ở các điểm thích hợp trong vườn thay thế cho núi non hoặc che giấu, hoặc để lộ các thành tố khác trong hoa viên.

Tôn Dật Tiên Viên Hội được khai sinh năm 1981 với tính cách là một tổ chức bất vụ lợi không nghĩ đến chuyện lời lỗ mà nhằm mục đích và sứ mạng duy trì nhịp cầu thông cảm và hiểu biết giữa văn hóa Trung Hoa và văn hóa phương Tây, nói trắng ra là lăng-xê văn hóa Trung Hoa, và có mặt như là một thành tố nguyên tính không thể thiếu của cộng đồng địa phương.

Vườn Tôn Dật Tiên nhận được sự tài trợ từ mọi cấp chính quyền Canada, từ sự đóng góp của tư nhân, doanh nghiệp và cả chính quyền Trung Hoa. Vườn được xây trong khoảng thời gian của hai năm 1985-1986, dựa đúng theo nguyên tắc và phương cách mẫu mực hoa viên chính gốc của triều đại nhà Minh. Năm mươi hai người thợ giỏi đến từ Tô Châu, Trung Hoa, cùng làm việc với một số đồng nghiệp người Gia Nã Ðại, đã hoàn tất phong cảnh được coi là tuyệt tác nầy. Những tường thành chạm trỗ phức tạp và những lối đi được tạo dựng bằng sự ráp nối chính xác mà không hề dùng đến keo dán hay một đinh ốc nào. Vườn khánh thành khai mạc vào ngày 24 tháng Tư năm 1986 cùng thời gian xảy ra Cuộc Triển Lãm Expo 86.
Vườn Tôn Dật Tiên đã được vẽ kiểu một cách uyển chuyển để đạt được nét hài hòa với công viên liên cận, tô điểm cho cảnh quan của cả hai nơi đó. Ðối với kiến trúc sư, nhà thảo mộc học, sinh viên khoa sử, khách thưởng ngoạn, Vườn Tôn Dật Tiên tạo cơ hội và cống hiến sự thấu hiểu kỳ quan huyền ảo ngay giữa các bức tường của kho tàng sống động này. Phần công viên ngoài do hai kiến trúc sư Joe Wai và Donald Vaughan vẽ kiểu; vườn trong do kiến trúc sư trưởng Wang Zu-Xin nghĩ ra với sự cộng tác của một công ty kiến trúc vườn cảnh ở Tô Châu bởi lý do điều kiện khí hậu Vancouver  cũng tương tự như khí hậu ở Tô Châu. Thảo mộc ở Tô Châu được lựa chọn theo định kỳ nở hoa, định kỳ thay đổi theo mùa, nhứt là thời kỳ nở hoa thức giấc trong mùa Xuân. Sự lựa chọn thảo mộc cũng còn được dựa trên ý nghĩa văn chương và lịch sử của mỗi loại cây dùng sao cho hài hòa với vườn phương Tây vừa cống hiến màu sắc suốt cả mọi mùa.
Xin nhắc sơ qua về thân thế bác sĩ Tôn Dật Tiên, người được coi như là vị cha đẻ của một nước Trung Hoa tân tiến. Bác sĩ Tôn Dật Tiên đã đóng một vai trò trọng tâm trong lịch sử cận đại Trung Hoa khi ông mang lại tư tưởng dân chủ vào đầu thế kỷ Hai Mươi. Ông đã đến thăm viếng Vancouver ba lần cả thảy để gây quỹ yểm trợ cho cuộc cách mạng Trung Hoa.

Ông sinh ra trong một gia đình nông dân trong tỉnh Quảng Ðông năm 1866, nhờ được giáo dục ở Hạ-Uy-Di nên ông đã sớm có ý thức và tư tưởng phương Tây. Sau đó, ông đã rời bỏ công việc của một y sĩ để cống hiến đời mình cho lý tưởng dân chủ. Là một nhà cách mạng chuyên nghiệp đầu tiên của Trung Hoa, ông du hành khắp thế giới để quảng bá phong trào thân dân chủ và gây quỹ vận động.

Bác sĩ Tôn Dật Tiên được ghi nhận công ơn đã cầm đầu cuộc cách mạng năm Ðinh Hợi (năm 1911) đưa đến việc lật đổ triều đại nhà Thanh. Qua năm sau, ông trở thành vị tổng thống đầu tiên của một nước có tên Trung Hoa Cộng Hòa. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, ông từ chức để tập trung nỗ lực vào việc phát triển kinh tế Trung Hoa. Sau khi mất năm 1925, danh xưng bác sĩ Tôn Dật Tiên đã trở thành một biểu tượng anh hùng của nước Trung Hoa hiện đại và được nhân dân tôn kính gọi là quốc phụ (Guo Fu).

NITOBE MEMORIAL GARDEN, B.C.


Vườn Tưởng Niệm Nitobe của Trường Ðại Học British Columbia (UBC) khánh thành năm 1959, nằm ngay rìa thành phố Vancouver (Vạn Cửu Thành) rộng một mẫu Tây (hectare) hoặc 2.5 mẫu Anh (acre) vốn là tác phẩm của kiến trúc sư Kannosuke Mori, giáo sư trường đại học Chiba, Nhật Bản. Vườn được cấu tạo từ một khu rừng nguyên sơ qua sự đề nghị của chính phủ Nhật Bản. Vườn là một bộ phận thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Và Vườn Thảo Mộc của UBC và nằm ngay đàng sau Trung Tâm châu Á vốn được xây bằng chính những đà sắt gỡ ra từ gian hàng trưng bày của Nhật tại Hội Chợ Triển Lãm Osaka tổ chức vào năm 1970.

Ðây là vườn Nhật Bản chính gốc được xem là đẹp nhất ở Bắc Mỹ và đứng trong bảng xếp hạng 5 vườn Nhật đẹp nhất trên thế giới ngoài nước Nhật, được tạo lập để vinh danh nhà chính trị/nhà ngoại giao/nhà giáo dục/nhà soạn sách là tiến sĩ Inazo Nitobe (1862-1933). Ông mất ở thành phố Victoria, là thành phố kết nghĩa chị em với quê ông là Morioka, là “nhịp cầu băng qua Thái Bình Dương”, theo cách nói gồ ghề có một chút gì cường điệu nghe cho hay vậy mà.

Vườn Tưởng Niệm Nitobe từng là đề tài nghiên cứu kéo dài hơn mười lăm năm bởi một vị giáo sư của trường UBC; vị giáo sư nầy tin rằng sự xây dựng lên ngôi vườn ẩn chứa một số điểm đặc trưng gợi cảm “đầy ấn tượng”, nếu nói theo ngôn ngữ bây giờ. Các điểm nầy nhắc nhở tới triết lý và huyền thoại Nhật Bản, những cây cầu in bóng chỉ có thể nhìn thấy vào thời điểm nhất định nào đó trong năm mà thôi; và còn sự sắp xếp vị trí của những đèn lồng bằng đá sao cho chúng chỉ phủ ngập ánh sáng vào đúng ngày giờ Nitobe tắt thở. Vị giáo sư này cho rằng mọi thứ trong vườn đều được ông Mori sắp xếp tinh vi theo hướng di chuyển của mặt trời và mặt trăng, huyền bí lắm! Kiến trúc sư Mori trở về Nhật và từ trần đột ngột ba tháng sau khi khu vườn hoàn tất.


Vườn Nitobe gồm có một trà đình gọi là Ichibo-an nằm giữa một vườn ngoài (lộ thiên) có băng ghế và là một trà đình chỉ có tính cách nghi lễ. Vườn có ngôi chùa nhỏ bảy tầng (Thất Tháp Tự), có một số đèn lồng thuộc nhiều loại khác nhau gồm một tuyết cảnh đăng, đèn lồng cây chanh, đèn lồng Kasuga và Ðèn Lồng Nitobe bằng đá khắc hình hoa sen và chú khuyển (Nitobe sinh năm 1862, vốn tuổi Nhâm Tuất) có ghi hàng chữ “Ðể tưởng niệm Inazo Nitobe, sứ giả thiện chí giữa các quốc gia, bằng hữu chi lập”. Năm 1962, mười ngàn con cá vàng được chở bằng máy bay để thả chúng bơi lội trong ao hồ trong vườn. Hai năm sau thêm 100 con cá chép đủ màu sắc nữa, tất cả do Hội Nhật-Canada ở Ðông Kinh mua. Chẳng may phần lớn cá vàng trong vườn bị các loài chim săn mồi như chim ó, chim ưng (loại nầy ở B.C. có nhiều) xơi tái hết; sau nầy chúng được thế bằng cá Koi.

Từng cây cao, bụi rậm, phiến đá trong vườn đều được cân nhắc cẩn thận xếp đặt và duy trì để phản ảnh khái niệm lý tưởng và sự phô bày tượng trưng của thiên nhiên. Các hình thể thác nước, sông suối, rừng, đảo và biển được phối hợp hài hòa, lực âm dương cân đối trong từng yếu tố thiên nhiên. Một số thảo mộc bản địa được lưu giữ và cắt tỉa theo thời trang Nhật Bản thành nét đặc trưng độc đáo. Cây thích, cây phong loại Nhật, cây anh đào và hầu hết các khóm hoa azalea, huệ kiếm (iris) đều được mang từ Nhật sang. Du khách đến đây mùa Xuân để ngắm hoa anh đào, mùa hè ngắm rừng hoa huệ kiếm, và mùa thu ngắm những cây thích cây phong khoác áo choàng sắc màu rực rỡ.

Tháng Bảy 2009 vừa qua, hoàng đế Nhật Bản Akihito, 75 tuổi, và hoàng hậu Michiko, 74 tuổi, đã đến thăm trường UBC và vườn Nitobe. Nửa thế kỷ trước, lúc bấy giờ còn là thái tử, ngài cũng đã đến đây viếng vườn này, chỉ trước ngày khánh thành chính thức có vài tháng. Ngày đó khi dạo qua vườn, ngài buộc miệng tuyên bố, “Tôi đang ở Nhật”, ý nói ngôi vườn trông chẳng khác gì vườn bản quốc.

Xin nhắc đôi dòng tóm lược tiểu sử tiến sĩ Inazo Nitobe. Sinh ra ở Nhật, lần lượt học Trường Cao Ðẳng Canh Nông Sapporo (nay là trường Ðại Học Hokkaido), Trường Ðại Học Hoàng Gia Ðông Kinh, Trường Ðại Học Johns Hopkins ở Baltimore, Maryland, Trường Ðại Học Halle, Ðức quốc, có tổng cộng năm bằng tiến sĩ về nhiều ngành học khác nhau. Giáo sư Ðại Học Hoàng Gia Tây Kinh (Kyoto) và Ðông Kinh (Tokyo).

Khi Hội Quốc Liên (tiền thân của Liên Hiệp Quốc) được thành lập năm 1920, ông trở thành Phó Tổng Thư Ký và phải qua làm việc ở Geneva, Thụy Sĩ. Tháng Mười năm 1933, ông đi dự một hội nghị quốc tế ở Banff, Alberta. Trên đường về, bệnh sưng phổi của ông trở nặng; ông được khẩn cấp đưa vào nhà thương Royal Jubilee Hospital ở Victoria và từ trần sau một cuộc giải phẫu, thọ 71 tuổi. Là một người viết không mệt mỏi, ông Inazo Nitobe để lại cho đời vô số tác phẩm nghiên cứu mô phạm lẫn kiến thức tổng quát bằng Nhật, Anh và Ðức ngữ, nổi tiếng nhất là quyển “Bushido: The Soul of Japan” năm 1900 nói về đạo đức theo tinh thần Hiệp sĩ đạo và văn hóa Nhật Bản.
(Xem tiếp kỳ 2)
Phan Hạnh.
PH-HCA